Tìm kiếm
Liên Hệ  |  English
Đặt hàng qua điện thoại (84-8) 3930.1035
SẢN PHẨM

PHỤC VỤ
KHÁCH HÀNG
ĐẶC BIỆT

THÔNG TIN
CÔNG TY
THÔNG TIN
WEB SITE

FAQs

Q: Tại sao máy in không in được với cổng Parallel?
A:
Khi cài đặt máy in với cổng parallel, nếu máy in không đúng dữ liệu, ngừng in giữa chừng hay không in gì cả, chọn cổng parallel ESDP –LPT port trong driver, hoặc đổi chế độ cổng parallel trong BIOS máy tính từ ECP sang Standard hoặc Standard Bi-Directional.

Q. Tôi nghe thấy tiếng bíp khi bật máy tính; chuyện gì đã xảy ra?
A. Những tiếng bíp này phát ra từ BIOS (phần mềm tích hợp sẵn trên bo mạch chủ ). Nếu nghe 1 tiếng bíp nhanh, gọn, bạn yên tâm là máy tính đang hoạt động tốt. Nếu bạn nghe tiếng bíp khác lạ, nhiều tiếng bíp, tiếng bíp dài, ngắn... hãy mở tài liệu hướng dẫn sử dụng đi kèm bo mạch chủ, xem loạt tiếng bíp đó báo hiệu vấn đề gì. Nếu bạn không tìm thấy trong tài liệu đính kèm bo mạch chủ, hãy thử tìm kiếm loạt tiếng bíp đó trên Internet. Mỗi hãng sản xuất BIOS (AMI, Award,…) sẽ có danh sách tiếng bíp báo hiệu khác nhau. Nếu không chắc BIOS của hãng nào, bạn hãy hỏi người bán máy tính. Hầu hết thông tin về nhà sản xuất BIOS sẽ xuất hiện ngay trên màn hình khởi động máy tính.

Q. Làm thế nào để đo băng thông mạng?
A.  Câu hỏi hay gặp là làm thế nào để biết được băng thông thực tế mà người dùng đang có trên đường truyền ADSL của mình. Một số trang web sẽ giúp giải quyết vấn đề này như: www.speedtest.net, .... Chẳng hạn với trang Speedtest.net, bạn chỉ cần dùng trình duyệt vào trang, rồi chọn một máy chủ đo băng thông trên thế giới, thường là máy chủ đặt tại HongKong, chương trình sẽ tự động tải dữ liệu lên, xuống rồi tính toán ra kết quả cho bạn.
Q. Không hiển thị các máy tính trong cùng mạng

A.Trong nhiều trường hợp, các sự cố về chia sẻ file trong mạng xuất phát từ lỗi Workgroup và cách đặt tên máy tính.

Hãy đảm bảo rằng mỗi máy tính có một tên duy nhất. Ngoài ra, hãy đảm bảo rằng tất cả các máy tính trong mạng sử dụng tên workgroup giống nhau


Q.Cách xử lý máy bị restart liên tục
A. Máy tính của bạn bị tình trạng tự động khởi động lại sau một vài phút sử dụng? Trường hợp này có thể xảy ra bởi nhiều nguyên nhân, bạn cần phải thử nghiệm trên phần mềm lẫn phần cứng để có thể tìm ra nguyên nhân và khắc phục:
- Ổ cứng bị lỗi vật lý (bad), 
khi bị lỗi này, có thể chương trình bạn đang chạy một số tập tin nằm trong vùng bị lỗi thì máy sẽ khởi động lại. Ngoài ra, Card màn hình, RAM gắn lỏng lẻo cũng có thể gây ra tình trạng tương tự, tuy nhiên thường thì chúng sẽ xuất hiện màn hình “xanh” báo lỗi.
- Nhiệt độ trong thùng máy quá nóng, có thể do quạt của CPU đã hỏng bạn cần kiểm tra lại, vì đây là nguyên nhân rất nguy hiểm có thể gây hư hỏng hệ thống phần cứng.
- Nguồn điện không ổn định có nhiều cách thức để kiểm tra dòng điện mà bộ nguồn cung cấp cho máy tính của bạn. Bộ nguồn tốt phải cung cấp được dòng điện "sạch" cho các linh kiện. Có nhiều người cho rằng các đường điện càng cao sẽ càng tốt nhưng thực tế điều này không đúng. Vấn đề ổn định dòng điện phải được đặt lên hàng đầu.Để theo dõi đường điện của bộ nguồn mới mua, bạn có thể sử dụng một số phần mềm chuyên dụng như Speedfan với chức năng lập biểu đồ theo thời gian.
- Virus đây là trường hợp khả thi nhất. Khá nhiều loại virus làm cho hệ thống tự động restart lại liên tục. Bạn cần có 1 chương trình antivirus luôn được thực thi ở chế độ thời gian thực (real-time), cập nhật virus database mới nhất từ hãng sản xuất. Sau đó ngắt mạng (LAN, Internet) và tiến hành quét lại toàn bộ hệ thống (Full scan). Có thể sử dụng các trình antivirus như: Bitdefender Pro 10 Plus, AVG Antivirus, NOD32 Antivirus, Kaspersky Antivirus.

Q.Sự cố WIFI và cách khắc phục
A. Dưới đây sẽ đề cập tới những nguy cơ tiềm tàng ảnh hưởng tới chất lượng WiFi.
- Do Wi-Fi hàng xóm. Mỗi thiết bị phát Wi-Fi đều có khoảng cách nhất định. Nếu hàng xóm của bạn cũng có Wi-Fi thì nguy cơ xung đột tín hiệu là rất dễ xảy ra. Điều này thường xảy ra đối với những thiết bị Wi-Fi sử dụng tần số 2.4Ghz. Giải pháp ở đây là bạn cần sử dụng bộ router tần số kép (2.4GHz và 5GHz), chẳng hạn như Cisco Linksys E2500. Trong khi tần số 2.4GHz hỗ trợ rất tốt các thiết bị Wi-Fi cũ hơn thì 5GHz lại cho tốc độ nhanh hơn và ít bị xung đột hơn. Các thiết bị hỗ trợ Wi-Fi thế hệ mới như Apple iPad, Motorola Xoom, TV Internet, máy chơi game (game console), máy tính xách tay thường hỗ trợ cả 2 tần số này.
- Thiết bị điện tử gia dụng. Lò vi sóng, điện thoại cố định không dây đều là những thiết bị có thể ảnh hưởng tới tín hiệu Wi-Fi. Nguyên nhân chủ yếu là do những thiết bị này cũng sử dụng tần số 2.4GHz. Một số dạng màn hình không dây hoạt động ở tần số 2.4GHz còn xung đột với cả router chuẩn 802.11g hoặc chuẩn 802.11n (đơn tần). Giải pháp ở đây là bạn cần xem kỹ các thiết bị điện tử trong nhà hoạt động ở tần số nào. Nếu được thì tốt nhất nên tránh sử dụng ở tần số 2.4GHz. Chẳng hạn như điện thoại không dây Panasonic KX-TG6545B sử dụng công nghệ DECT 6.0 hoạt động ở băng tần 1.9GHz hoàn toàn không gây ảnh hưởng gì.
- Thiết bị Bluetooth. Các thiết bị Bluetooth đời cũ có khả năng gây xung đột với mạng Wi-Fi. Tuy nhiên, nguyên nhân này thường không nhiều bởi trong nhiều năm qua các nhà sản xuất thiết bị Wi-Fi và Bluetooth đã áp dụng khá nhiều kỹ thuật đặc dụng để hạn chế tình trạng này. Trừ khi thiết bị Bluetooth của bạn đã quá cũ, nếu không bạn cũng không cần lo lắng chúng sẽ xung đột với mạng Wi-Fi.
- Thiết lập bảo mật. Trong một số dòng router đời cũ, việc thiết lập cơ chế bảo mật ở mức cao có thể ảnh hưởng ít nhiều tới hiệu suất phát Wi-Fi. Tuy nhiên, đều đó không có nghĩa bạn tắt các thiết lập này đi mà cần phải thay đổi chúng một cách phù hợp hơn. Những năm gần đây, hai chuẩn bảo mật không dây mới là WPA và WPA2 đã dần thay thế WEP, vốn kém an toàn hơn. Cần chú ý là với một số dòng router rẻ tiền sử dụng WEP, nếu chuyển lên WPA có thể khiến cho hiệu suất phát Wi-Fi kém đi. Tất nhiên, đa phần những dòng router mới sau này đã không còn hiện tượng đó.
- Phần mềm cơ sở không được cập nhật. Theo định kỳ, các nhà sản xuất router thường tiến hành nâng cấp phần mềm cơ sở (firmware) cho sản phẩm của mình. Nếu router của bạn đã quá cũ, bạn nên cập nhật chúng bằng cách vào website của nhà sản xuất và download phần mềm nâng cấp về.
 
Q. Khi máy in bị kẹt giấy nên xử lý ra sao ?
A. Giấy bị kẹt có thể do : Giấy quá mỏng, giấy bị ẩm dính vài tờ với nhau, có vật lạ nằm trong giấy (kim bấm, keo,...), trục cuốn giấy trong máy in bị mòn, máy đang in bị cúp điện đột ngột. Dùng giấy đúng loại định lượng 70g/m2 trở lên, bảo quản giấy bằng cách để trong bao nhựa kín chống ẩm, chỉ nên nạp giấy vừa đủ dùng , kiểm tra giấy & xòe giấy trước khi để vào khay đồng thời định kỳ bảo trì máy in sẽ ngăn ngừa nguy cơ bị kẹt giấy.
   Khi bị kẹt giấy : Tắt điện máy in, mở nắp máy tháo hộp mực ra khỏi máy, theo phần giấy nhô ra dùng tay kéo đều nhẹ theo chiều giấy chạy ra khi in (nếu có một ống trụ tròn độ dài bằng chiều rộng của giấy thì dùng cuốn giấy xoay nhẹ sẽ tốt hơn kéo bằng tay). Khi kéo giấy ra hết nên xem tờ giấy có bị thiếu mẫu nào không. 
Trường hợp vẫn còn kẹt lại mẫu giấy nhỏ bên trong mà không thể lấy ra bằng tay thì phải liên hệ trung tâm bảo hành hoặc các kỹ thuật viên vi tính. Không được dùng vật nhọn cạy gỡ hoặc tháo máy máy ra.

Q.Chuẩn nối USB là gì?
A. USB ( Universal Serial Bus) là một chuẩn kết nối tuần tự đa dụng trong máy tính. USB sử dụng để kết nối các thiết bị ngoại vi với máy tính, chúng thường được thiết kế dưới dạng các đầu cắm cho các thiết bị tuân theo chuẩn cắm-là-chạy mà với tính năng cắm nóng thiết bị (nối và ngắt các thiết bị không cần phải khởi động lại hệ thống).
  - Những đặc trưng của USB:
  • Cho phép mở rộng 127 thiết bị kết nối cùng vào một máy tính thông qua một cổng USB duy nhất (bao gồm các hub USB);
  • Những sợi cáp USB riêng lẻ có thể dài tới 5 mét; với những hub, có thể kéo dài tới 30 mét (6 sợi cáp nối tiếp nhau thông qua các hub) tính từ đầu cắm trên máy tính.
  • Với USB 2.0, đường truyền đạt tốc độ tối đa là 480 Mbps và USB 3.0 thì đường truyền đạt tốc độ tối đa lên đến 5 Gbps .
  • Cáp USB gồm hai sợi nguồn (+5V và dây chung GND) cùng một cặp gồm hai sợi dây xoắn để mang dữ liệu.
  • Trên sợi nguồn, máy tính có thể cấp nguồn lên tới 500mA ở điện áp 5V một chiều (DC).
  • Những thiết bị tiêu thụ công suất thấp (ví dụ: chuột, bàn phím, loa máy tính công suất thấp...) được cung cấp điện năng cho hoạt động trực tiếp từ các cổng USB mà không cần có sự cung cấp nguồn riêng (thậm trí các thiết bị giải trí số như SmartPhone, PocketPC ngày nay sử dụng các cổng USB để xạc pin). Với các thiết bị cần sử dụng nguồn công suất lớn (như máy in, máy quét...) không sử dụng nguồn điện từ đường truyền USB như nguồn chính của chúng, lúc này đường truyền nguồn chỉ có tác dụng như một sự so sánh mức điện thế của tín hiệu. Hub có thể có nguồn cấp điện riêng để cấp điện thêm cho các thiết bị sử dụng giao tiếp USB cắm vào nó bởi mỗi cổng USB chỉ cung cấp một công suất nhất định.
  • Những thiết bị USB có đặc tính cắm nóng, điều này có nghĩa các thiết bị có thể được kết nối (cắm vào) hoặc ngắt kết nối (rút ra) trong mọi thời điểm mà người sử dụng cần mà không cần phải khởi động lại hệ thống.
  • Nhiều thiết bị USB có thể được chuyển về trạng thái tạm ngừng hoạt động khi máy tính chuyển sang chế độ tiết kiệm điện.
Q.HDMI là gì?
A. HDMI (là từ viết tắt của High-Definition Multimedia Interface) chỉ một ngõ cắm HDMI hoàn toàn tương thích với máy vi tính, màn hình hiển thị và những thiết bị điện tử gia đình theo chuẩn Giao Tiếp Hình Ảnh KTS (DVI). Cả hai chuẩn HDMI và DVI đều là phát minh của công ty Silicon Image dựa trên công nghệ TMDS®, là công nghệ kết nối tuần tự tốc độ cao, mạnh mẽ của công ty Silicon Image.
HDMI hỗ trợ tất cả các chuẩn hình ảnh tiêu chuẩn, tăng cường, hoặc độ nét cao, cũng như tín hiệu âm thanh đa kênh trên một dây cáp duy nhất. Nó truyền tải tín hiệu TV độ nét cao ATSC và hỗ trợ âm thanh KTS 8 kênh, với băng thông là 5 Gbps. HDMI có khả năng đáp ứng những đòi hỏi mở rộng băng thông trong tương lai.Vì HDMI được thiết kế cho những ứng dụng trong thiết bị gia đình, nên nó có khả năng hỗ trợ tốt cho nhu cầu của khách hàng dân dụng và trong các cơ quan xí nghiệp.
Liên mình HDMI Founders (bao gồm Hitachi, Panasonic, Philips, Silicon Image, Sony, Technicolor và Toshiba) chính là nơi đưa ra các định nghĩa và tiêu chuẩn cho HDMI. Kể từ năm 2002, liên minh này đã liên tục đưa ra các bản cập nhật cho HDMI mà bản 1.4 và 1.4a là những phiên bản mới nhất. HDMI sử dụng 3 kết nối vật lý riêng biệt để truyền tải dữ liệu, chúng bao gồm Display Data Channel (DDC), Transition Minimized Differential Signaling (TMDS) và Consumer Electronics Control (CEC). DDC cho phép thiết bị “báo cáo” thông tin về hình ảnh và video để màn hình có thể tự động cấu hình nhằm đạt được độ phân giải tối ưu nhất, nó cũng là nơi xử lý các bộ mã khóa HDCP (High-bandwidth Digital Content Protection) chống nội dụng lậu.
TMDS truyền tải phần tiếng, video và các dữ liệu liên quan đến chúng và tất cả những dữ liệu này đều có thể được mã hóa HDCP. Chính vì truyền tải những dữ liệu này mà TMDS đòi hỏi sự chính xác rất cao, độ rộng của dây truyền tải dữ liệu là 1/20000 inch. Tốc độ truyền tải tối đa về mặt lý thuyết của HDMI là 4,9Gb trên giây, hỗ trợ tối đa 8 kênh âm thanh (7.1).
Chuẩn HDMI 1.4 được hoàn chỉnh vào năm 2009 đã mở ra khả năng hỗ trợ 3D, cho phép tăng độ phân giải tối đa, mở rộng không gian màu, hỗ trợ thêm Audio Return Channel, mạng Ethernet và 2 kiểu kết nối mới. Chuẩn 1.4a hoàn chỉnh vào tháng 5/2010 sau đó cụ thể hóa các nội dung 3D trong game, phim và TV.
- Hỗ trợ 3D:
HDMI 1.4 tiêu chuẩn hóa kiến trúc 3D khi truyền các khung hình qua giao tiếp này này, qua đó các thiết bị có thể tương tác với nhau một cách hoàn chỉnh, chẳng hạn một đầu đọc đĩa Bluray của một sản xuất A sẽ có thể làm việc tốt với một chiếc TV 3D của nhà sản xuất B.
Hầu hết các video 3D đều được truyền tải bởi 2 kênh riêng biệt, mỗi kênh cho 1 mắt khác nhau. Việc tiêu chuẩn hóa truyền tải 3D không chỉ hỗ trợ truyền tải 2 luồng dữ liệu khác nhau theo kiểu quét xen kẽ (interlaced) cả tín hiệu FullHD và 720p mà nó còn hỗ trợ hiển thị hình ảnh 2D có chiều sâu (2D+depth) hay các công nghệ theo định dạng WOWvx của các TV 3D không cần kính từ Phillips. Phương pháp này sẽ gửi các khung hình 2D và một bản đồ độ nổi đơn sắc (grayscale depth map) đến với TV để TV có thể hiểu và biến khung hình đó thành các hình ảnh nổi, tạo hiệu ứng 3D cho TV 3D không kính.
Các thiết bị nguồn phát HDMI buộc phải hỗ trợ tối thiểu một trong những định dạng sau đây: 1080p/24 (24 khung hình giây) với kỹ thuật đóng gói khung hình cho việc truyền tải film hay 720p/60 hoặc 720p/50 cho games. Tất nhiên là các thiết bị hiển thị cũng phải hỗ trợ những định dạng trên. Thêm vào đó, chuẩn HDMI 1.4a định nghĩa các kỹ thuật truyền tải khung hình mà thiết bị hiển thị buộc phải hỗ trợ: quét xen kẽ (ngang) 1080i/60 hoặc 1080i/50, trên vào dưới 720p/60 hoặc 720p/50 và cuối cùng là trên và dưới 1080p/24.
Tuy HDMI 1.4 tiêu chuẩn hóa việc truyền tải 3D, chuẩn DVI và rất nhiều thiết bị HDMI 1.3 vẫn được đưa ra các bản cập nhật để hỗ trợ kiến trúc 3D, cho phép chúng tương thích với TV dùng HDMI 1.4. Một ví dụ điển hình là chiếc máy chơi game PlayStation 3 của Sony đã có một bản cập nhật cho phép máy xem phim Bluray 3D, chơi game 3D hay hệ thống 3DTV Play của nVidia sẽ vẫn kết nối với 1 máy tính có HDMI dùng chip nVidia cho dù bạn sử dụng cần sử dụng bộ chuyển đổi DVI sang HDMI.
- Tăng cường băng thông:
Khi mà băng thông của HDMI 1.3 đã đạt tới giới hạn của mình, HDMI 1.4 mở rộng nó ra để hỗ trợ độ phân giải 4Kx2K/24 (4096x2160), một độ phân giải tương đương với rất nhiều phim tại rạp chiếu. Tốc độ truyền tải tối đa về mặt lý thuyết là 10,2Gb/s. Tiếp tục truyền thống mở rộng không gian màu có từ HDMI 1.3, HDMI 1.4 lại tiếp tục hỗ trợ các không gian màu rộng ở của máy ảnh kỹ thuật số: sYCC601, AdobeRGB và AdobeYCC601. Với việc hỗ trợ những tiêu chuẩn này, bạn có thể kết nối máy ảnh với bất cứ màn hình nào mà vẫn giữ được khả năng tái tạo màu sắc như cũ. Tổ chức HDMI cũng khuyên người dùng nên chọn cáp HDMI tốc độ cao để tận dụng được hết công nghệ hiển thị cao cấp này.
- Kết nối Ethernet:
HDMI 1.4 hỗ trợ mạng Ethernet 100Mb/s, cho phép kết nối bất cứ thiết bị HDMI 1.4 với mạng có dây khá dễ dàng. Các sợi cáp HDMI mới vẫn giữ cấu trúc như trước đây, kênh dữ liệu Ethernet được truyền tải thông qua DDC/CEC, HPD và Utilitys nhưng bạn sẽ cần một sợi cáp HDMI mới bởi vì mỗi sợi dây đều được bảo vệ để chống lại hiện tượng crosstalk.
Ngoài Ethernet thì kênh âm thanh Audio Return Channel cũng sẽ loại bỏ một sợi cáp audio khác. Kênh này cho phép các TV tích hợp sẵn đầu thu sóng hay các thiết bị A/V gửi tiến hiệu âm thanh đến receiver thông qua kết nối HDMI mà không cần kết nối bổ sung. Tiến trình này hoàn toàn tương thích với LipSync vốn được giới thiệu từ HDMI 1.3.

Chuẩn IEEE-1394?

IEEE 1394 là một chuẩn giao tiếp với băng thông cao do IEEE (  Institute of Electrical and Electronic Engineers) công bố vào cuối năm 1995   (theo thứ tự công bố chuẩn thứ 1394 như một sự tình cờ hoặc là lý do để chuẩn này được đặt tên như vậy)

IEEE 1394 cũng còn được biết đến với tên khác như: FireWire (hãng   Apple) i.LINK (hãng   Sony) bởi bản thân IEEE 1394 không phải là một loại cổng, chúng chỉ là một chuẩn giao tiếp để các hãng phần cứng khác phát triển ra các cổng giao tiếp dựa trên chuẩn này nếu được chấp nhận rộng rãi.
Tiêu chuẩn chung nhất của IEEE 1394 là IEEE 1394a hoặc IEEE 1394a-2000 với con số 2000 là năm mà chuẩn được giới thiệu.
Chuẩn IEEE 1394b được giới thiệu vào đầu năm 2003, chuẩn này hỗ trợ băng thông lên đến 800 Mbps và còn có khả năng mở rộng lên 3.200 Mbps trong tương lai. IEEE 1394b có tốc độ cao hơn các chuẩn IEEE 1394/IEEE 1394a bởi vì chúng hỗ trợ các công nghệ mạng bằng cáp quang và các cáp theo  Category 5 UTP  . IEEE 1394b hoàn toàn tương thích ngược với các thiết bị theo chuẩn IEEE 1394a.

- IEEE 1394a

IEEE 1394a hiện tại hỗ trợ các mức băng thông 100 Mbps, 200 Mbps, và 400 Mbps (tương ứng 12,5 MBps, 25 MBps, và 50 MBps). IEEE 1394 cho phép kết nối đồng thời đến 63 thiết bị bằng các hình thức phân nhánh.
IEEE 1394a dùng cáp 6 sợi, trong đó 4 sợi cho truyền tín hiệu, 2 sợi cho cung cấp nguồn điện. Tuy nhiên một loại đầu cắm nhỏ hơn dùng cho các thiết bị tự cung cấp năng lượng chỉ có 4 sợi, trong đó không bố trí 2 sợi cung cấp điện năng. Các DV camcorder thường sử dụng loại giao tiếp IEEE 1394 có 4 sợi bởi chúng tự cung cấp năng lượng qua pin hoặc có nguồn điện riêng.

- IEEE 1394b

IEEE 1394b là thế hệ thứ 2 của chuẩn IEEE 1394 với những ứng dụng đầu tiên vào năm 2003. IEEE 1394b có 9 chân, hỗ trợ tốc độ truyền 800/3200 Mbps nên cao hơn, nó có các cải tiến sau so với thế hệ trước nó (IEEE 1394a):

  • Tự sửa chữa lỗi   (Self-healing loops)
  • Hỗ trợ các cáp dài hơn.
  • Hỗ trợ cáp CAT5 cũng như cáp quang.

IEEE 1394b có thể giao tiếp với nhiều loại thiết bị có sử dụng các chuẩn giao tiếp theo chuẩn này thông qua các loại cáp chuyển đổi số chân cắm: 9 chân -> 6 chân hoặc 4 chân để phù hợp với các thiết bị sử dụng các cổng giao tiếp theo chuẩn IEEE 1394a.
Các loại cáp sử dụng với IEEE 1394b bao gồm:

  • Beta: Chỉ dùng riêng với IEEE 1394b (không tương thích với IEEE 1394a)
  • Bilingual: Cáp loại này dùng đồng thời cho các thiết bị IEEE 1394a/b, giúp các cổng theo IEEE 1394b sử dụng tương thích ngược với các thiết bị theo chuẩn thế hệ trước nó. Có hai loại: 9 chân sang 6 chân và 9 chân ra 4 chân giúp việc tương thích giữa hai chuẩn a/b.

* Ứng dụng và phát triển

Do sự các thiết bị cần băng thông cao chưa phổ biến trong người tiêu dùng nên các cổng IEEE 1394 chưa được thôi thúc tích hợp sẵn trên tất cả các máy tính cá nhân. Đa số các thiết bị ngoại vi hiện nay chỉ khai thác đến bus USB như:   ổ usb flash,   bàn phím,   chuột... , giao tiếp với các   máy ảnh số do tốc độ truy cập dữ liệu còn chậm nên cũng chỉ sử dụng USB. Mặt khác USB 2.0 với băng thông 480 Mbps cũng đáp ứng khá tốt cho các thiết bị kể trên.

IEEE 1394 mới chỉ được khai thác ở các ứng dụng cần băng thông lớn, đặc biệt là (một số trong chúng vẫn chưa phổ biến với chuẩn này):

  • DV cameras: Hầu hết các DV camera (digital camera) ngày nay được tích hợp sẵn một cổng IEEE 1394 (nên IEEE 1394 còn quen được gọi là cổng DV hay   DV port). Sự lựa chọn giao tiếp với chuẩn IEEE 1394 bởi chúng đáp ứng với băng thông cho video. Nhiều phần mềm, tiện ích kèm theo các DV camera này được phát triển trên nền chuẩn IEEE 1394 như: chuyển video từ DV cam sang PC, convert các định dạng video trực tiếp theo thời gian thực khi chuyển...
  • Các ổ đĩa cứng gắn ngoài và các thiết bị lưu trữ khác gắn ngoài khác yêu cầu băng thông cao, như: ổ đĩa quang   (ổ CD, ổ DVD).
  • Các máy quét   cao cấp với độ phân giải cao.
  • Kết nối các máy tính với nhau với băng thông cao.

Trong tương lai, khi mà nhiều thiết bị sử dụng các chuẩn IEEE 1394 thì chúng có thể thay thế các giao tiếp USB đang phổ biến hiện nay cũng như USB đã thay thế các cổng tuần tự và song song thế hệ trước nó.


Chuẩn DVI là gì?
DVI là cổng truyền tín hiệu video số (digital) trực tiếp đến màn hình mà không cần phải qua bước chuyển về tín hiệu tương tự (analog) như trước đây.

DVI (Digital Video Interface) do DDWG (Digital Display Working Group) phát triển nhằm cung cấp tín hiệu hình ảnh analog và digital cho màn hình trên một kết nối duy nhất. 

Kiểu giao tiếp phổ biến nhất hiện nay là giữa màn hình LCD và card đồ họa loại mới. Đây là ngõ giao tiếp thứ 2 hoặc thay thế chuẩn Plug & Display trước đây. DVI ngày càng được sử dụng phổ biến hơn ở các hãng sản xuất card đồ họa và màn hình LCD. Cho đến nay card đồ họa và LCD thường hỗ trợ 2 ngõ giao tiếp là DVI và VGA (ngõ D-Sub) và trong các thiết bị cao cấp còn có thêm ngõ HDMI.

Ngoài việc sử dụng như chuẩn giao tiếp trên  máy tính , DVI còn là lựa chọn trong việc truyền các tín hiệu số cho HDTV (High Definition TV), EDTV (Enhanced Definition TV), màn hình Plasma và một số thiết bị cao cấp dành cho TV, đầu DVD. Tương tự, vài đầu đọc DVD cũng trang bị ngõ DVI bên cạnh ngõ Component. Xuất hiện trên thị trường chưa bao lâu, DVI lại có một đối thủ cạnh tranh mới, đó là HDMI – ngõ giao tiếp số cao cấp cho cả hình ảnh và âm thanh. Tuy nhiên, vì quá phổ biến cũng như giá thành thấp nên đến nay DVI vẫn còn nhiều người ưa chuộng.

Hiện có 3 loại đầu nối DVI: DVI-Digital (DVI-D), DVI-Analog (DVI-A) và DVI-Integrated (Digital & Analog hay còn gọi là DVI-I) 

DVI-D – ảnh digital trung thực 
Cáp DVI-D được dùng để nối trực tiếp giữa nguồn video (card màn hình) và màn hình LCD (hay rất hiếm với màn hình CRT). Ưu điểm của ngõ giao tiếp này là thời gian đáp ứng nhanh, chất lượng hình ảnh tốt hơn so với ngõ VGA analog (tương tự). Tất cả các card đồ họa đều xuất ra tín hiệu video số sau đó mới được chuyển đổi thành tương tự xuất qua ngõ VGA. Tín hiệu tương tự di chuyển qua màn hình và được chuyển lại thành tín hiệu số (digital). DVI-D loại bỏ giai đoạn chuyển đổi tín hiệu tương tự do đó chất lượng hình ảnh được cải tiến đáng kể.

DVI-A – ảnh analog độ phân giải cao 
Cáp DVI-A dùng để kết nối đến màn hình analog, chẳng hạn màn hình CRT hay LCD giá thành thấp. DVI-A dùng phổ biến cho thiết bị hỗ trợ ngõ VGA vì DVI-A và VGA tương tự nhau. DVI-A có thể gây thất thoát tín hiệu trong quá trình chuyển đổi từ số sang tương tự, vì thế tín hiệu số luôn được khuyên dùng.

DVI-I – Tốt cho cả hai
Cáp tích hợp tín hiệu digital và analog DVI-I vừa có khả năng truyền tín hiệu số-số (digital to digital) vừa có khả năng truyền tín hiệu tương tự- tương tự (analog to analog). Điều này tạo nên sự linh hoạt cho người dùng trong từng tình huống. Tất nhiên DVI-D và DVI-A không giao tiếp trực tiếp với nhau được. Để kết nối tín hiệu tương tự đến màn hình số, bạn cần có đầu chuyển từ VGA sang DVI-D hay DVI-A và ngược lại.

Single-Link và Dual-Link
Định dạng số được trang bị sẵn trên đầu nối DVI-D Single-Link và Dual-Link cũng như DVI-I Single-Link và Dual-Link. Cáp DVI gửi thông tin bằng cách sử dụng tín hiệu số được gọi là TMDS (Transition Minimized Differential Signaling). Cáp Single-Link dùng một bộ phát TMDS 165MHz, còn Dual-Link dùng 2. Do DVI Dual-Link có công suất phát gấp đôi Single-Link nên tốc độ và chất lượng hình ảnh cũng tăng gấp đôi. Chẳng hạn, màn hình LCD có ngõ DVI Single-Link 60Hz có thể hiển thị độ phân giải 1920x1200, DVI Dual-Link là 2560x1600.

Chiều dài tối đa của cáp DVI
Theo đặc tả kỹ thuật, tất cả các loại cáp DVI phải đảm bảo tín hiệu trong khoảng cách 5 mét. Nhưng nhiều hãng sản xuất card đồ họa có tốc độ xử lý mạnh hơn đòi hỏi màn hình lớn hơn nên khoảng cách tối đa có thể không chính xác. Dù chỉ hỗ trợ tốt trong phạm vi 5 mét, nhưng trong những trường hợp cần thiết, bạn vẫn có thể dùng cáp dài hơn bằng cách dùng thêm bộ DVI Inline Repeater & Booster để tăng tín hiệu.

Cũng nên lưu ý rằng, khi dùng cáp DVI-D để mở rộng khoảng cách, có thể bạn sẽ gặp trường hợp tín hiệu hình ảnh không rõ ràng. Do tín hiệu tương tự truyền tốc độ chậm nên màn hình tự chuyển sang tín hiệu số sẽ yếu hơn. Vì lý do này, việc kéo dài cáp chỉ nên thực hiện với VGA (ngõ tương tự) hay HDMI (ngõ số). Nếu không có lựa chọn khác ngoài DVI, bạn nên chọn ngõ DVI-D để đạt chất lượng hiển thị tốt hơn. 

Q. SATA là gì?
A. Serial ATA  hay đơn giản được gọi là SATA, là một chuẩn ổ cứng được tạo ra nhằm thay thế giao diện ATA song song, IDE SATA cho tốc độ truyền 150 MB/s hoặc 300 MB/s so với tốc độ tối đa 133 MB/s dùng kỹ thuật cũ.
Cổng IDE truyền thống ( mà chúng ta gọi là ATA song song hoặc đơn giản PATA ) truyền dữ liệu song song.Lợi thế của truyền dữ liệu song song hơn hẵn truyền nối tiếp là cái trước có tốc độ truyền cao hơn vì nhiều bits được chuyển đi cùng lúc.Tuy nhiên ,bất lợi chính của nó là liên quan tới nhiễu.Khi mà nhiều sợi dây được dùng,sợi này sẽ tạo nhiễu qua sợi khác.

Serial ATA ,trái lại, truyền dữ liệu trong chế độ nối tiếp,nghĩa là mỗi lần một bit.Theo cách suy nghĩ truyền thống của chúng ta thì truyền nối tiếp lúc nào cũng chậm hơn truyền song song.Rõ ràng là nếu như truyền song song trên 8 sợi dây dĩ nhiên sẽ nhanh gấp 8 lần truyền nối tiếp vì 8 sợi sẽ truyền 8 bit một lần trong khi truyền nối tiếp chỉ truyền đi 1 bit.Tuy nhiên,khi dùng với tần số cao,thì truyền nối tiếp lại có thể nhanh hơn truyền song song.Đây là trường hợp xảy tra đúng trong Serial ATA.

Cáp Serial ATA gồm hai cặp dây ( một cặp truyền đi và một cặp nhận tín hiệu ) dùng cách truyền vi phân.Nó dùng thêm 3 sợi tiếp đất,như vậy cáp Serial ATA dùng 7 dây.

Một lợi ích khác của truyền nối tiếp là dùng rất ít sợi dây,dây cáp nhỏ gọn,không choán chỗ,không khí dễ lưu thông giải nhiệt cho thùng máy.

Q. SSD là gì?
A. SSD là viết tắt của từ Solid-State Drive - ổ cứng thể rắn, còn HDD là viết tắt của Hard Disk Drive, tức ổ đĩa cứng hoạt động bằng cơ. Với HDD, dữ liệu được ghi lên các phiến đĩa (gọi là platter),chúng sẽ bị phân mảnh, dẫn tới việc tốc độ truy xuất bị giảm sút (giống như ta mất thời gian tìm 1 cuốn sách trong thư viện), và cũng vì giới hạn trong công nghệ sản xuất mà HDD ngày nay chỉ tăng về dung lượng là chủ yếu chứ tiến rất chậm về tốc độ
Với SSD thì cao cấp hơn, chúng không sử dụng phiến đĩa cũng như đầu từ, mà dữ liệu sẽ được lưu trữ trong các chip flash, nên dù có bị phân mảnh dữ liệu giống trên HDD thì điều này cũng không ảnh hưởng tới tốc độ truy xuất dữ liệu, do đó khi cần tìm dữ liệu, việc truy xuất diễn ra gần như tức khắc mà không có độ trễ
SSD có những ưu điểm như sau:
- Giảm thời gian khởi động hệ điều hành.
- Khởi chạy phần mềm nhanh hơn.
- Tốc độ lưu file và truy xuất dữ liệu cực nhanh.
- Chống sốc tuyệt đối, không có tiếng ồn, mát hơn.
- Tóm lại, Hiệu năng tổng thể của máy cũng tăng theo.

Q. DDR, DDR2, DDR3 là gì?
A. DDR, DDR2 và DDR3 đều dựa trên thiết kế SDRAM ( Bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên động đồng bộ - Synchronous Dynamic Random Access Memory), tức là sử dụng tín hiệu xung nhịp để đồng bộ hóa mọi thứ. DDR là viết tắt của Tốc độ dữ liệu gấp đôi - Double Data Rate , tức truyền được hai khối dữ liệu trong một xung nhịp, . Như vậy bộ nhớ DDR có tốc độ truyền dữ liệu cao gấp đôi so với những bộ nhớ có cùng tốc độ xung nhịp nhưng không có tính năng này ( được gọi là bộ nhớ SDRAM, hiện không còn sử dụng cho PC nữa).
Một trong những khác biệt chính giữa DDR, DDR2 và DDR3 là tốc độ truyền dữ liệu lớn nhất của từng thế hệ
Bộ nhớ DDR3 hoạt động ở điện áp thấp hơn so với DDR2, DDR2 lại dùng điện áp thấp hơn DDR. Như vậy bộ nhớ DDR3 sẽ tiêu thụ ít điện hơn DDR2, và DDR2 tiêu thụ ít hơn DDR

 



 
 
Mua Hàng

 

Yêu Cầu Báo Giá
Khuyến Mãi Trong Ngày
Hàng Thanh Lý
Cơ Hội Hàng Tuần
Hàng Mới Nhập
Sự Kiện Đặc Biệt
K100
Chào Hàng Nóng Nhất
Tìm Dây Cáp
Hàng Bán Nhiều!